Chuỗi tham vọng của Trung Quốc trên biển Đông

Theo các chuyên gia, Trung Quốc đang tự hủy hoại lợi ích cốt lõi của chính mình bằng những hành động biến biển Đông thành “ao nhà”.

Xua 32 tàu cá xuống khu vực biển thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam rồi lại đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt ở biển Đông với phạm vi bao gồm cả một số vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa từ hôm qua cho đến 1.8. Từ những hành động trên, các chuyên gia quốc tế cho rằng Trung Quốc đang đi ngược lại cam kết của chính mình về việc tìm kiếm một giải pháp cùng có lợi cho vấn đề biển Đông.

Ngày 16.5, Hội Nghề cá Việt Nam đã gửi văn bản tới Văn phòng Chính phủ, Bộ NN-PTNT, Bộ Ngoại giao và Ban Đối ngoại T.Ư kịch liệt phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

Vị trí khu vực cấm đánh bắt và đội tàu cá Trung Quốc - Đồ họa: Du Sơn

Vị trí khu vực cấm đánh bắt và đội tàu cá Trung Quốc – Đồ họa: Du Sơn

Lấn cả vào Indonesia

Theo Tân Văn xã, lệnh cấm đơn phương nói trên được áp đặt cho khu vực từ vĩ tuyến 12 kéo lên đến ranh giới biển giữa tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến của Trung Quốc. Trong khi đó, đội tàu cá Trung Quốc đi thẳng xuống “sát mí” bản đồ đường lưỡi bò và đánh bắt trong vùng biển tây nam Trường Sa với tọa độ hiện nay là 6,01 độ vĩ bắc, 108,48 độ kinh đông. Như vậy, rõ ràng là “Trung Quốc ngang nhiên thách thức các nước liên quan đuổi tàu cá của họ ở phía nam đồng thời lại ngăn cấm các nước đó vào đánh bắt ở phía bắc”, tiến sĩ James Holmes (Trường Chiến tranh hải quân Mỹ) nói với Thanh Niên. Ông Holmes cảnh báo: “Đối với Trung Quốc, khi đụng đến lợi ích cốt lõi, sẽ chỉ có một viễn cảnh duy nhất: Chúng tôi được, các người mất. Luật ở “ao nhà” sẽ dần dà trở thành luật chung nếu các bên liên quan không có cơ chế phản đối hữu hiệu”.

Bên cạnh đó, đây là đoàn tàu cá Trung Quốc hoạt động ở vị trí “xa nhất về phía nam”, theo GS David Arase (ĐH Nam Kinh – Trung Quốc). Trả lời phỏng vấn với Thanh Niên, ông Arase nhận định: “Đây là một phần trong tham vọng chiếm đóng các khu vực mà Bắc Kinh tự cho là thuộc chủ quyền của mình”. Tham vọng đó đang thể hiện đến mức tọa độ như trên, đội tàu cá của Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm thềm lục địa Việt Nam và “vào cả vùng đặc quyền kinh tế của một nước không có tranh chấp tại biển Đông là Indonesia”, theo tiến sĩ Alexander Vuving thuộc Trung tâm nghiên cứu an ninh châu Á – Thái Bình Dương (Mỹ). Từ đó, ông cho rằng Trung Quốc đang muốn hợp pháp hóa “đường lưỡi bò” bằng một sự tự tin thái quá.

“Tự hủy diệt”

GS Carl Thayer (Học viện Quốc phòng Úc) giải thích với Thanh Niên rằng chiến dịch như trên của Trung Quốc là do ngư dân nước này đã “tận diệt hết nguồn thủy sản tại tỉnh Hải Nam”. Ông Thayer nhấn mạnh: “Trung Quốc làm vậy cũng là tự hủy diệt lợi ích cốt lõi của chính mình. Bằng việc đánh bắt quá mức và gây ô nhiễm trên vùng biển khai thác, Trung Quốc về lâu dài không chỉ tận diệt nguồn thủy sản của các nước láng giềng mà còn đe dọa an ninh lương thực của chính mình. Nên nhớ là khoảng 10% đơn đặt hàng trên thế giới lệ thuộc vào lượng cá đánh bắt được ở biển Đông. Tự hủy diệt còn ở chỗ, động thái ngang ngược của Bắc Kinh chỉ càng làm mâu thuẫn giữa họ và các nước tranh chấp trầm trọng thêm”.

Trước tình hình như vậy, các chuyên gia cho rằng nhu cầu có một cơ chế quản lý nguồn lợi thủy sản hiệu quả trên biển Đông là vô cùng bức bách. Tiến sĩ Sam Bateman (Trường Nghiên cứu quốc tế S.Rajaratnam, Đại học Công nghệ Nanyang – Singapore) nói: “Hợp tác cùng quản lý nguồn thủy sản là nghĩa vụ của các bên tham ký Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) lẫn Tuyên bố của các bên về ứng xử trên biển Đông (DOC). Thiếu một cơ chế như vậy sẽ rất dễ dẫn đến “thảm kịch của tài nguyên chung” và các bên liên quan đều mất trắng”.

“ Luật ở “ao nhà” sẽ dần dà trở thành luật chung nếu các bên liên quan không có cơ chế phản đối hữu hiệu “

Tiến sĩ James Holmes (Trường Chiến tranh hải quân Mỹ)

Tuy nhiên, viễn cảnh “cùng hợp tác” có vẻ quá xa vời như kết luận của tiến sĩ Holmes: “Lấy gì mà đàm phán cùng hợp tác khi Trung Quốc cứ khăng khăng theo phương thức “kẻ mạnh lấy tất cả” đối với nguồn thủy sản hiện nay tại biển Đông?”.

Báo Trung Quốc kích động Đài Loan bắn tàu, máy bay Việt Nam

Ngày 15.5, báo mạng China.com.cn của Trung Quốc ngang nhiên đăng bài phân tích với tựa đề  Hai bờ chia nhau trị Philippines, Việt Nam mới có hiệu quả. Sau đó, bài này được Nhân Dân nhật báo đăng lại. Bài xã luận mang giọng điệu cực kỳ kích động khi xúi Đài Loan không cần cảnh báo mà lập tức bắn cháy chiến đấu cơ, tàu chiến của Việt Nam nếu đi vào vùng biển Ba Bình, đảo lớn nhất thuộc quần đảo Trường Sa đang bị Đài Loan chiếm đóng phi pháp. Rõ ràng bài báo thể hiện lối suy nghĩ cực kỳ nguy hiểm, bất chấp luật pháp quốc tế và mọi cam kết lâu nay của chính giới lãnh đạo Trung Quốc về “không sử dụng vũ lực, bảo đảm hòa bình, ổn định trên biển Đông”.

Mục tiêu của bài xã luận là nhân căng thẳng liên quan tới vụ lực lượng Philippines bắn chết ngư dân Đài Loan hôm 9.5 để lôi kéo Đài Loan về cùng một phía với Bắc Kinh trong tranh chấp trên biển Đông. Theo đó, sau khi Đài Loan nổ súng, nếu Việt Nam phản công thì Trung Quốc sẽ lập tức nhảy vào. Bài báo rêu rao rằng chính Trung Quốc chứ không phải Mỹ có thể bảo vệ quyền lợi trên biển của Đài Loan chống lại Việt Nam và Philippines.

Đến ngày 16.5, Hoàn Cầu thời báo cũng thừa cơ đăng xã luận kêu gọi Đài Loan cùng đại lục theo đuổi  “chiến thắng toàn diện để bảo vệ chủ quyền trên biển cho nhân dân Trung Hoa”.

Văn Khoa

 

Trung Quốc xua tàu cá vào thềm lục địa Việt Nam

TT – Ngày 14-5, đoàn 32 tàu cá Trung Quốc đã bắt đầu ngày đánh cá tiếp theo ở khu vực biển thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Đội tàu 32 chiếc dàn hàng ngang trong ngày khởi hành xuống phía tây nam Trường Sa - Ảnh: hinews.cn

Đội tàu 32 chiếc dàn hàng ngang trong ngày khởi hành xuống phía tây nam Trường Sa – Ảnh: hinews.cn

Khoảng 17g20 ngày 13-5, đoàn tàu cá này, do tàu cung cấp hậu cần Quỳnh Tam Á F8138 có tải trọng 4.000 tấn dẫn đầu, đã xâm nhập trái phép và thả neo ở tọa độ 6,01 độ vĩ Bắc, 108,48 độ kinh Đông, tức vùng biển phía tây của quần đảo Trường Sa của Việt Nam, để bắt đầu việc đánh bắt trái phép tại khu vực này.

Mạng Tin tức Hải Nam dẫn lời hai phóng viên Cao Bằng và Đặng Tùng đang có mặt trong đoàn tàu cho biết ngày 14-5 tàu cung cấp hậu cần Quỳnh Tam Á F8138 đã tiếp tục hạ thủy thêm một số tàu nhỏ để đánh bắt cá mú, cá đỏ, cá chình và các loại cá da trơn cũng như nhiều loại hải sản quý ở hải vực trên sau khi đã hạ thủy bốn tàu trong đêm 13-5.

Ông Trần Nhật Hải, thuyền trưởng tàu Quỳnh Tam Á F8138, cho biết tàu hậu cần này mang theo 12 tàu cá nhỏ, mỗi chiếc dài 13m, rộng 4m, có trọng lượng từ 5-7 tấn và có khả năng chở theo bốn ngư dân với số lương thực đủ dùng trong hai ngày.

Ngoài ra, sau khi nhận đủ lương thực và nhu yếu phẩm từ tàu hậu cần, 31 tàu còn lại cũng thả neo cách tàu Quỳnh Tam Á F8138 khoảng 20 hải lý để lập thành vòng rào đánh bắt cá và hải sản.

Theo tin của Tân Hoa xã, đoàn 32 tàu cá Trung Quốc, trong đó có một tàu 4.000 tấn và một tàu 1.500 tấn, đã rời cảng Bạch Mã Tỉnh, tỉnh Hải Nam ngày 6-5 và hướng thẳng ra biển Đông. Theo dự kiến, đoàn tàu này sẽ lưu lại khoảng 40 ngày ở khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Đây là lần thứ hai Trung Quốc xua tàu đến Trường Sa kể từ vụ 30 tàu cá tỉnh Hải Nam đã đến khu vực này đánh bắt trái phép vào tháng 7-2012. Trong lần xua tàu đến Trường Sa này, Trung Quốc đã chuẩn bị kỹ về mặt thông tin. Các phóng viên của mạng Tin tức Hải Nam đã cùng đi theo tàu để đưa tin, hình ảnh về đất liền vào cuối ngày để phát sóng trên các mạng cũng như Đài truyền hình trung ương Trung Quốc CCTV.

MỸ LOAN

 

Thêm học giả Trung Quốc yêu cầu bãi bỏ “đường lưỡi bò”

TP – Thứ ba, “Đường 9 đoạn” không phù hợp luật quốc tế

Căn cứ quy định của “Công ước biển quốc tế” mà Trung Quốc đã ký kết và phê chuẩn, cho dù Trung Quốc hoàn toàn có được các quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa của Việt Nam – TP), Nam Sa (Trường Sa của Việt Nam – TP) mà họ đòi hỏi thì vùng đặc quyền kinh tế Trung Quốc có được theo luật quốc tế cũng nhỏ hơn nhiều phạm vi của “Đường 9 đoạn”.

Chiến sĩ hải quân Việt Nam đứng gác tại đảo Đá Tây A, quần đảo Trường Sa. Ảnh: N.C.Khanh.

Chiến sĩ hải quân Việt Nam đứng gác tại đảo Đá Tây A, quần đảo Trường Sa. Ảnh: N.C.Khanh.

Có người nói, “Đường 9 đoạn” sinh ra trước khi có Công ước biển LHQ năm 1982 nên không bị chế tài bởi Công ước. Đó là sự không hiểu biết về luật biển. Sự thực, sở dĩ quốc tế cần đàm phán xây dựng luật biển là do khi đó tình hình các vùng biển trên quốc tế khá phức tạp, các quốc gia đều tự tiện mở rộng phạm vi vùng biển của mình nên tranh chấp, xung đột liên tiếp xảy ra, việc xuất hiện luật biển quốc tế chính là để giải quyết vấn đề đó.

Nếu lấy việc “Đường 9 đoạn” có trước Công ước biển LHQ năm 1982 để phủ nhận việc Trung Quốc cần phải tuân thủ luật biển thì Công ước có khác nào tờ giấy lộn, bởi rất nhiều quốc gia đều đã nêu ra đường biên giới biển trước khi Công ước biển LHQ năm 1982 ra đời.

Thứ tư, vùng biển bên trong “Đường 9 đoạn” không phải là vùng biển lịch sử của Trung Quốc

Hiện có một kiểu lập luận cho rằng “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc là “vùng biển có tính lịch sử” được quy định trong luật biển quốc tế. Sự thực thì cái vùng biển “có tính lịch sử” ấy là cái đuôi để lại trong quá trình xác lập luật biển, cũng không có quy định chính thức.

Nhưng có một tiêu chuẩn được công nhận là: Phải là quốc gia có quyền tư pháp và quyền quản lý không thể tranh cãi đối với vùng biển mà họ đã quản lý lâu dài. Trung Quốc rõ ràng không có được tiêu chuẩn đó.

Từ xưa đến nay, Nam Hải là biển chung của các nước xung quanh và các nước có liên quan. Từ thời Hán, các thương thuyền của Chiêm Thành, Phù Nam, Sumatra, Ba Tư, Ấn Độ, Ả rập đã qua lại ở đó và là chủ lực trên tuyến hàng hải Nam Hải. Trung Quốc mãi đến thời Tống, Nguyên mới chiếm cứ địa vị quan trọng trên tuyến giao thông mậu dịch Nam Hải nhưng vẫn không hơn được người Ảrập.

Từ thời Minh về sau, do chính sách cấm biển của nhà Minh, nhà Thanh, địa vị của Trung Quốc trên tuyến giao thông Nam Hải đã bị chấm dứt hoặc giảm sút mạnh, nhường lại cho Zuro, Brunei mới trỗi dậy hoặc Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha từ phía Tây sang; từ Cận đại, Anh và Pháp trở thành chủ lực trên tuyến hàng hải Nam Hải (ở đây tác giả đã không liệt kê sự thực về việc các chúa Nguyễn nhà Nguyễn thực hiện quản lý các quần đảo quan trọng nhất trên Biển Đông – TP).

Trung Quốc xưa nay cũng chưa hề thực thi chủ quyền đầy đủ bên trong “Đường 9 đoạn”. Trước khi “Đường 9 đoạn” được vẽ ra, các đảo Nam Hải đều không thuộc sở hữu của Trung Quốc. Phía Tây Sa (Hoàng Sa-TP) và Nam Sa (Trường Sa – TP) đều do người Pháp chiếm hữu. Tàu chiến Anh và Pháp thường xuyên qua lại những nơi này. Cho đến khi Lâm Tuân hành động “thu phục” các đảo Nam Hải năm 1946, Trung Quốc mới lần đầu tiên đưa lực lượng chính phủ xuống Nam Sa.

Năm 1974, Trung Quốc mới chiếm đóng cả quần đảo Tây Sa, nhưng chưa bao giờ chiếm đóng được đại đa số quần đảo Nam Sa. Từ xưa đến nay, tàu thuyền các nước vẫn qua lại và tiến hành các hoạt động thương mại trong vùng biển bên trong “Đường 9 đoạn” mà không cần phải được Trung Quốc cho phép, Trung Quốc cũng chưa hề có hành động bảo hộ hay cứu trợ nào.

Có người nói, từ sau năm 1947, Trung Quốc liên tục dùng các hình thức ra tuyên bố hay lập pháp để khẳng định chủ quyền đối với các đảo bên trong “Đường 9 đoạn”, nói rằng điều này đã chứng minh “Đường 9 đoạn” có tính lịch sử. Luận điểm này thật nực cười! Thứ nhất, việc lập pháp chỉ đối với các đảo chứ không với “Đường 9 đoạn”. “Đường 9 đoạn” đến nay vẫn không có địa vị pháp lý. Thứ nữa, tuyên bố và lập pháp đều chỉ là thứ trên miệng và trên giấy, Trung Quốc chưa có được thể hiện thực tiễn.

Thứ năm, “Đường 9 đoạn” thành trở ngại cho việc giải quyết vấn đề Nam Hải

Trong vấn đề Nam Hải (Biển Đông), điều gây phản cảm nhất cho các nước lân bang chính là “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc.

Một, nó quá bá đạo! Như trên đã nói, phạm vi của “Đường 9 đoạn” quá rộng so với quy định của luật quốc tế.

“Đường 9 đoạn” quá sát bờ biển các nước Philippines, Malaysia, Brunei, nơi gần nhất chỉ cách bờ biển nước khác vài chục cây số. “Đường 9 đoạn” đã thu hẹp nghiêm trọng không gian sinh tồn của các quốc gia xung quanh.

Hai, Trung Quốc chưa hề tuyên bố định nghĩa về “Đường 9 đoạn” gây hiểu lầm nghiêm trọng cho các nước ven bờ. Như đã phân tích ở trên, ngay về mặt pháp luật của Trung Quốc thì “Đường 9 đoạn” cũng không phải lãnh hải của Trung Quốc, nhưng chính phủ Trung Quốc lại không tỏ rõ thái độ rõ ràng về điều này, khó tránh khỏi việc các nước cho rằng Trung Quốc có ý đồ bá chiếm toàn bộ Nam Hải. Thực tế, ngay dân chúng Trung Quốc cũng có khá nhiều người nhầm lẫn vùng biển bên trong “Đường 9 đoạn” là lãnh hải của Trung Quốc.

Ngoài ra, “Đường 9 đoạn” cũng gây nên mâu thuẫn với Indonesia vốn không có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc vì nó vạch quá sát quần đảo Natuna, chồng lên vùng đặc quyền kinh tế của họ. Việc này khiến Indonesia đứng về phía các nước Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei đang có tranh chấp về Nam Hải với Trung Quốc. Việc kiên trì “Đường 9 đoạn” rõ ràng bị coi là thể hiện Trung Quốc thiếu thiện chí giải quyết hòa bình vấn đề Nam Hải.

Thu Thủy 
(giới thiệu và dịch

 

Phải tôn trọng lịch sử về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa

TT – Vấn đề biển Đông hiện nay với sự căng thẳng càng ngày càng leo thang khiến nhiều học giả quốc tế trong các hội thảo về biển Đông e ngại nguy cơ xảy ra bi kịch châu Á, như đã xảy ra bi kịch châu Âu ở Thế chiến thứ hai.

Chiến sĩ hải quân vùng 3 xem những tấm bản đồ thể hiện Hoàng Sa là của Việt Nam tại Bảo tàng Đà Nẵng ngày 29-4 - Ảnh: HỮU KHÁ

Chiến sĩ hải quân vùng 3 xem những tấm bản đồ thể hiện Hoàng Sa là của Việt Nam tại Bảo tàng Đà Nẵng ngày 29-4 – Ảnh: HỮU KHÁ

 

Có một nghịch lý là thế giới hiện nay chỉ quan tâm đến biển Đông có liên quan đến quyền lợi cốt lõi của mỗi nước, còn vấn đề tranh chấp chủ quyền các đảo đá là chuyện nội bộ của các nước tranh chấp, mà không biết hay cố tình không biết chính thực tế sự tranh chấp chủ quyền các đảo đá bất cần đến sự thật lịch sử và bất chấp luật pháp quốc tế khiến sự căng thẳng leo thang.

Trong hội thảo quốc tế tại Quảng Ngãi vừa qua, một học giả đến từ một trường đại học ở Hong Kong cho rằng sự quảng bá ra thế giới sự thật lịch sử về chủ quyền của Việt Nam còn rất hạn chế. Tôi cũng vừa đề nghị cần quan tâm đến sự thật lịch sử chủ quyền tại Paracel (Hoàng Sa) và Spratly (Trường Sa).

Từ luận điểm “đất vô chủ”

Chỉ cần tập trung vào sự thật lịch sử năm 1909, Trung Quốc bắt đầu tranh chấp chủ quyền tại biển Đông, chính quyền Quảng Đông đưa ra luận điểm Paracel là “đất vô chủ”, bắt đầu tổ chức chiếm hữu theo cách của phương Tây như cho tàu chiến bắn 21 phát súng, cắm cờ, cắm cột mốc chủ quyền tại các đảo ở Paracel và đặt tên là Tây Sa. Hay tập trung vào sự kiện năm 1898 khi công ty bảo hiểm Anh nhờ quan chức tổng lãnh sự Anh yêu cầu chính quyền Hải Nam bồi thường vụ dân Hải Nam hôi của lấy đồng thau của tàu Bellona (của Đức) bị đắm năm 1895 và tàu Nhật Unofi Maru bị đắm năm 1896 tại Paracel, thì chính quyền Hải Nam bác bỏ Paracel không thuộc chủ quyền Trung Quốc.

Khi ấy Việt Nam đã có quá nhiều chứng cứ minh chứng Paracel là của Việt Nam, từ văn bản nhà nước như Châu bản của triều đình Nguyễn, các văn bản chính quyền địa phương cũng như chính sử, địa chí, bản đồ, cho đến các tài liệu, bản đồ của phương Tây cũng như chính tài liệu, bản đồ của Trung Quốc. Các tài liệu của phương Tây như Gutzlaff năm 1849 hay bản đồ An Nam đại quốc họa đồ ghi rất rõ Paracel chính là Cát Vàng, tức Hoàng Sa.

Việt Nam đã chiếm hữu thật sự mang tính nhà nước liên tục và hòa bình qua các thời đại từ đội dân binh Hoàng Sa kiêm quản đội Bắc Hải đi khai thác sản vật tại Hoàng Sa và Trường Sa từ đầu thế kỷ 17, đến khi thủy quân đi cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền từ năm 1816-1836 trở thành lệ hằng năm.

Đã tuyên bố Paracel vô chủ hay Paracel không thuộc chủ quyền của Trung Quốc thì có đưa bất cứ bằng chứng nào sau này cũng chỉ là ngụy tạo hay suy diễn không có giá trị, trái với sự thật lịch sử.

Lịch sử không thể cắt xén

Tháng 4-1956, lợi dụng quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương, Đài Loan chiếm đảo lớn nhất là Itu Aba, tức đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa (Trung Quốc mới đặt tên Thái Bình, kỷ niệm tàu Thái Bình chiếm đóng cuối năm 1946); Trung Quốc chiếm đảo lớn nhất của quần đảo Hoàng Sa và lợi dụng quan hệ mới với Mỹ sau Tuyên bố chung Thượng Hải năm 1972, Trung Quốc đã chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa ngày 19-1-1974.

So với trước năm 1949, từ đây Trung Quốc đã bắt đầu quan tâm hơn đến luận điểm cho rằng chủ quyền về Hoàng Sa của Trung Quốc đã có từ lâu đời, với nhiều luận cứ, luận chứng phi lịch sử. Trung Quốc đã cố gắng tìm kiếm tài liệu để cố gán ghép bằng cách cắt xén, nếu cần thì xuyên tạc, với sự đóng góp của một số nhà học giả đưa ra luận điểm cho rằng “các đảo Nam Hải từ cổ xưa đến nay là lãnh thổ Trung Quốc”, do nhân dân Trung Quốc “phát hiện sớm nhất”, “kinh doanh sớm nhất”, do chính phủ các triều đại Trung Quốc “quản hạt sớm nhất” và viện dẫn nhiều tài liệu lịch sử mang tính suy diễn để dẫn chứng (Quang Minh Nhật Báo, 24-11-1975).

Sau đó, ngày 30-1-1980, Bộ Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã công bố văn kiện ngoại giao, chính thức hóa những luận điểm đã đưa ra trong bài báo nói trên và năm 1988 đã xuất bản bộ tư liệu đồ sộ của nhóm Hàn Chấn Hoa. Song những tư liệu này lại hết sức vu vơ không có gì là xác thực, hầu hết những tài liệu cổ mà Trung Quốc dẫn chứng lại đều là sách viết về nước ngoài “chư phiên”, tức không phải chép việc của Trung Quốc, như Nam châu dị vật chí của Dương Phù, Chư phiên chí của Triệu Nhữ Quát.

Do sự thật không có trong lịch sử và không có ngay trong bản đồ của Trung Quốc hay phương Tây vẽ, cộng thêm chính sự kiện chính quyền Quảng Đông cho Paracel là đất vô chủ, nên sự phản bác những ngụy tạo, suy diễn trong các luận điểm cùng các luận cứ, luận chứng của Trung Quốc quá dễ dàng, nhất là dựa vào pháp lý quốc tế cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 phải là chiếm hữu thật sự, phải mang tính nhà nước, liên tục và hòa bình.

Riêng phản bác luận điểm của Trung Quốc về tuyên bố đường lưỡi bò năm 2009 thì chỉ cần dựa vào Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 sẽ phản bác lại dễ dàng, nhất là Trung Quốc dựa vào kế thừa lịch sử năm 1947 và những luận điểm, luận chứng vu vơ, không ai có thể chấp nhận được.

Hiện nay ở Trung Quốc người ta hầu như lờ đi sự kiện năm 1909 chính quyền Quảng Đông cho Paracel là “đất vô chủ”, hầu như ai cũng nói giáo đầu kiểu như: “Các hòn đảo ở Nam Hải từ xưa đến nay là lãnh thổ của Trung Quốc, nếu đi sâu nghiên cứu các sách cổ Trung Quốc thì đây là điều hiển nhiên, không có gì phải nghi ngờ”… Cứ như thế mà tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân khiến người dân ai nấy đều tin như vậy! Còn đi sâu nghiên cứu sách cổ thì chẳng có gì cả, chỉ là cố suy diễn hàm hồ.

Để tránh nguy cơ bi kịch châu Á như nhiều người lo ngại và để công bằng và thế giới ổn định trật tự, hòa bình, hợp tác bền vững thì chỉ còn cách phải tôn trọng sự thật lịch sử, tôn trọng luật pháp quốc tế; phải đấu tranh theo tinh thần cùng thắng “win-win”. Cái gì của Caesar phải trả lại cho Caesar!

TS NGUYỄN NHÃ

Asean cần đưa ra tuyên bố chung

TT – Trả lời Tuổi Trẻ, luật sư Nguyễn Thị Minh Huyền, Đoàn luật sư TP.HCM, cho rằng với Quy hoạch phát triển sự nghiệp hải dương quốc gia năm năm lần thứ 12, Trung Quốc hoàn toàn không có ý định nói suông hay hô hào khẩu hiệu ở biển Đông.

* Trung Quốc nhắm vào điều gì khi ban bố quy hoạch vào thời điểm mà các ngoại trưởng của Asean và Trung Quốc chuẩn bị gặp nhau ở Brunei để thảo luận cách thúc đẩy đàm phán Bộ quy tắc ứng xử (COC) và khi Asean chuẩn bị hội nghị cấp cao tại Brunei trong chưa đầy hai tuần nữa?

- Trung Quốc hoàn toàn không nói suông hay hô hào khẩu hiệu về tuyên bố chủ quyền của họ ở biển Đông. Các hành động của Trung Quốc, mà mới đây nhất là việc ban bố Quy hoạch phát triển sự nghiệp hải dương quốc gia năm năm lần thứ 12, cho thấy mức độ hiện thực hóa chủ quyền của họ tại biển Đông ngày càng “ráo riết” và ở tầm “chiến lược” hơn.

Chưa thể khẳng định đích xác Trung Quốc nhắm vào mục đích gì khi ban bố quy hoạch trong thời điểm này, nhưng có thể cảm nhận được một thông điệp là Trung Quốc đang và sẽ tiếp tục giữ thái độ “cứng rắn” đối với vấn đề chủ quyền của họ ở biển Đông, kể cả trong các hoạt động liên quan đến việc đàm phán COC với Asean.

* Bà có nhận định gì về các kế hoạch khai thác Hoàng Sa – Trường Sa của Trung Quốc trong quy hoạch này, nhất là khi Trung Quốc chưa bao giờ giải thích rõ ràng với thế giới về yêu sách đường lưỡi bò của họ?

- Kế hoạch khai thác Hoàng Sa – Trường Sa của Trung Quốc trong quy hoạch này (như thử nghiệm công trình khử muối trong nước biển ở Hoàng Sa, xây dựng các cột mốc công cộng trên biển tại các quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa), mở rộng việc tuần tra an toàn đường biển đến khu đặc quyền kinh tế và các vùng biển khác, đặt mục tiêu đến năm 2015 thời gian lực lượng cứu hộ tuần tra có mặt tại một số khu vực ở Nam Hải (biển Đông), cụ thể là những nơi cách bờ 100 hải lý, sẽ không vượt quá 90 phút…) nếu thực thi, sẽ vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của VN đối với hai quần đảo này, vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của VN trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của VN, vi phạm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982, trái với tinh thần Tuyên bố ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC).

* VN, Asean và cộng đồng quốc tế nói chung nên làm gì và phản ứng ra sao trước việc Trung Quốc liên tục thúc đẩy các kế hoạch hiện thực hóa tuyên bố chủ quyền của họ ở biển Đông?

- Trong bối cảnh này, VN và các nước Asean cần thống nhất và sớm có tuyên bố chung về vấn đề trên. Trong đó yêu cầu Trung Quốc dừng ngay các hành động không phù hợp này và sớm tiến hành quá trình đàm phán COC.

Riêng VN, trước hết cần phản đối mạnh mẽ quy hoạch này của Trung Quốc, tranh thủ dư luận quốc tế, đồng thời nhanh chóng triển khai các biện pháp, công cụ để hỗ trợ, bảo vệ ngư dân cũng như tài sản của các tổ chức, cá nhân VN hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của VN. VN cũng cần xây dựng, ban hành các văn bản pháp lý khẳng định và thực thi chủ quyền của VN đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Luật biển năm 2012 của VN là một ví dụ điển hình.

HƯƠNG GIANG thực hiện

Bắc Kinh tìm cách “bẻ đũa”

Để thâu tóm biển Đông, Trung Quốc đang chuyển sang giai đoạn công vụ hóa các lực lượng gây hấn và tìm cách “bẻ đũa” những bên tranh chấp.

Hồi tuần trước, Tân Hoa xã đưa tin Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vào ngày 9.4 đã có chuyến thị sát lực lượng của hạm đội Nam Hải đóng ở thành phố Tam Á, tỉnh Hải Nam. Theo tờ South China Morning Post, tại đây, ông Tập đã yêu cầu binh sĩ cần luôn trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu. Như vậy, trong vòng chưa đầy 4 tháng, Chủ tịch Tập Cận Bình có 2 lần thị sát hạm đội Nam Hải. Trước đó, từ ngày 8 – 10.12.2012, chưa đầy một tháng sau khi nhậm chức Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông cũng đã có đợt thị sát Quân khu Quảng Châu và Hạm đội Nam Hải, ra lệnh cho quân đội phải tăng cường khả năng “tác chiến thực tế”.

Bản đồ phân bổ 169 tỉ m3 khí hóa lỏng qua biển Đông năm 2011 - Đồ họa: EIA

Bản đồ phân bổ 169 tỉ m3 khí hóa lỏng qua biển Đông năm 2011 – Đồ họa: EIA

 

 

 

Những diễn biến trên rất đáng quan tâm khi hạm đội Nam Hải hoạt động tại biển Đông, khu vực đang tranh chấp và Bắc Kinh liên tục có nhiều hành động gây quan ngại. Nhận xét với PV Thanh Niên, chuyên gia Tetsuo Kotani, thuộc Học viện Các vấn đề quốc tế Nhật Bản, cho rằng: “Chủ tịch Tập Cận Bình sẽ tìm kiếm quan hệ ổn định với Mỹ nhưng cũng sẽ tiếp tục cứng rắn với các nước trong khu vực, khiến những vùng biển châu Á thêm căng thẳng”.

Chủ tịch Tập Cận Bình sẽ tìm kiếm quan hệ ổn định với Mỹ nhưng cũng sẽ tiếp tục cứng rắn với các nước trong khu vực, khiến những vùng biển châu Á thêm căng thẳng

Chuyên gia Tetsuo Kotan

 

Công vụ hóa và bẻ đũa

Thực tế, thời gian gần đây, Trung Quốc liên tục xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên biển Đông bằng cách đẩy mạnh triển khai lực lượng công vụ tuần tra và gây hấn. Sự đẩy mạnh triển khai lực lượng công vụ còn được thể hiện qua việc Thứ trưởng Công an Mãnh Hồng Quân hồi tháng 3 chính thức kiêm nhiệm vị trí Cục trưởng Cục Cảnh sát biển và Cục phó Cục Hải dương quốc gia. Từ đó, hai cục này sẽ phối hợp và thống nhất chỉ đạo các lực lượng công vụ trên biển của Trung Quốc gồm hải giám, ngư chính, cảnh sát biển… Trước đây, các lực lượng này trực thuộc những bộ ngành khác nhau như: Bộ Công an, Bộ Nông nghiệp, Bộ Giao thông…

Chuyên gia Swee Lean Collin Koh, thuộc Trường nghiên cứu quốc tế S.Rajaratnam (RSIS) ở Singapore, nhận xét với PV Thanh Niên rằng Bắc Kinh đang chuyển sang một giai đoạn mới trong tham vọng thâu tóm biển Đông. Chuyên gia này nhận định nếu hầu hết các vụ rắc rối trước đây liên quan đến Bắc Kinh tại biển Đông đều do tàu cá thực hiện thì nay bóng dáng tàu công vụ đang dần rõ nét hơn. Kèm theo sự tăng cường hiện diện, tàu công vụ của Trung Quốc cũng đang có nhiều hành động quá trớn hơn như tham gia hỗ trợ hoặc trực tiếp cắt cáp các tàu thăm dò Việt Nam trên biển Đông. Thậm chí, hồi tháng 3, tàu công vụ Trung Quốc còn nổ súng vào tàu cá Việt Nam. Còn bà Bonnie Glaser, chuyên gia về Trung Quốc thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) tại Mỹ, đặt ra lo ngại: “Trung Quốc đang đẩy mạnh tuần tra trên biển Đông chủ yếu là để khẳng định chủ quyền và quyền tài phán, ngư dân các nước khác sẽ ngày càng trở thành nạn nhân”.

Nhận xét về hành vi gây hấn gần đây của Bắc Kinh trên biển Đông, GS Ngô Vĩnh Long, chuyên gia Đông Á tại Đại học Maine (Mỹ), cho rằng: “Một là nhằm khẳng định chủ quyền của Trung Quốc. Hai là đánh lạc hướng dư luận về việc Philippines đưa Trung Quốc ra Tòa án luật Biển của LHQ để đòi xét xử vể đường 9 đoạn,… mà Trung Quốc không chịu tham gia. Ba là cố tình thách thức Việt Nam”. Tất cả chỉ nhằm tạo ra các căng thẳng trực tiếp với những bên tranh chấp tại biển Đông, như bắn tàu cá Việt Nam hay đụng độ với tàu chiến Philippines ở gần bãi cạn Scarborough. Trong khi đó, giới chuyên gia và lãnh đạo nhiều nước lâu nay vẫn khẳng định biển Đông là vấn đề chung của quốc tế. Vì thế, với thủ thuật tạo ra căng thẳng trực tiếp với từng nước, Trung Quốc đang muốn vô hiệu hóa nỗ lực của cộng đồng thế giới là giải quyết vấn đề biển Đông trên nguyên tắc đa phương, dựa theo luật pháp quốc tế.

Biển Đông chiếm 50% giao thương khí hóa lỏng toàn cầu

Đầu tháng 4, Cơ quan thông tin năng lượng Mỹ (EIA) vừa công bố các số liệu về vận chuyển dầu thô và khí hóa lỏng (LNG) thông qua biển Đông. Theo đó, trong năm 2011, khoảng 6.000 tỉ tcf (tương đương 169 tỉ mét khối) khí hóa lỏng được vận chuyển qua biển Đông. Con số này tương đương với một nửa tổng lượng khí hóa lỏng giao thương toàn cầu trong cùng khoảng thời gian. Tổng số 6.000 tỉ tcf LNG trên, chủ yếu được chuyển đến Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản. Trong đó, khoảng 3.400 tỉ tcf LNG có điểm đến là Nhật Bản. Ngoài ra, trong năm 2011, mỗi ngày có khoảng 11 triệu thùng dầu thô được vận chuyển thông qua biển Đông để tỏa đi Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản.

 

 

 

 

Đừng ảo tưởng Trung Quốc từ bỏ tham vọng độc chiếm Biển Đông

Chúng ta không nên ảo tưởng gì về việc nhà cầm quyền Trung Quốc sẽ từ bỏ tham vọng và âm mưu độc chiếm Biển Đông. Bởi tham vọng bá quyền của Trung Quốc có từ ngàn năm và xuyên suốt qua tất cả các thời kỳ. Tuy nhiên đừng sợ Trung Quốc, Việt Nam phải mạnh lên, phải nhất trí, đoàn kết để chặn đứng dã tâm của TrungQuốc nuốt trọn Biển Đông

.b1

 

Tư tưởng bá quyền, bành trướng thời nào cũng có

 

Tham vọng bá quyền của Trung Quốc đã có từ nhiều đời nay và các thế hệ lãnh đạo của họ đều coi Biển Đông là phần lãnh thổ của Trung Quốc, dù trong một thời gian dài họ chưa hề có chỗ đứng tại đây. Ngay sau ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1949), họ đã có “bước tiến dài” trong việc chiếm đóng đảo, bãi đá ngầm và thực thi chủ quyền không chính đáng tại 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ta.

 

Thời gian gần đây, báo chí chính thống Trung Quốc đã có rất nhiều hành động, lời nói rất ngang ngược, hiếu chiến như “muốn giải quyết vấn đề Nam Hải, Trung Quốc phải đoạt trọn Việt Nam-Việt Nam đừng liều lĩnh”. “Nam Sa chỉ là cái cớ để xuất quân, đoạt được miền Nam Việt Nam mới là việc quan trọng nhất! Hạ được Việt Nam là có thể khống chế được Đông Nam Á”. Trên thực địa, họ có những hành động ngang ngược khác như, khuyến khích vốn xã hội tham gia khai thác các hải đảo chưa có người ở- điều này cho thấy rõ âm mưu tiến về Biển Đông của Trung Quốc.

 

Tất cả những lời nói và hành động trên đưa chúng ta đi đến khẳng định: Bá chiếm toàn bộ Biển Đông là mục tiêu trước mắt, lâu dài và trong bất kỳ tình huống, thời gian nào cũng không thay đổi của các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc. Chưa lấn chiếm bằng hết cái lưỡi bò hoang đường mà họ đã vạch ra họ quyết không thôi. Để thực hiện được mục tiêu bất di bất dịch đó, nhà cầm quyền Trung Quốc đã, đang và sẽ không từ bất kỳ thủ đoạn nào.

 

Biển Đông-sự sống còn của Trung Quốc

 

Sau hơn 30 năm phát triển kinh tế với tốc độ cao, Trung Quốc đang phải đối mặt với nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Trong khi đó trữ lượng dầu mỏ ở Biển Đông rất lớn (đủ dùng cho họ trong vòng 100 năm). Ngoài ra, còn nhiều tài nguyên khác mà Trung Quốc cho là trị giá trên 1.000 tỷ USD. Có nhà khoa học của Trung Quốc đã tính rằng, hai mẫu biển nếu sử dụng tốt có thể thu hoạch bằng 1 mẫu ruộng tốt. Như vậy, trong tương lai không xa Biển Đông là “kho lương thực” thứ 2 của Trung Quốc.

 

Thứ nữa, đặt Biển Đông vào vấn đề chiến lược toàn cầu của Trung Quốc, ta sẽ thấy, sở dĩ người Trung Quốc kiên quyết không buông vấn đề này không chỉ là chuyện tài nguyên phong phú mà còn vì vị thế chiến lược vô cùng quan trọng của nó. Bởi khống chế được Biển Đông, Trung Quốc hy vọng có thể “nắn gân” Nhật Bản, Hàn Quốc… những nước thường xuyên vận chuyển lượng hàng hóa lớn qua đây.

 

Không chỉ vậy, Trung Quốc còn hy vọng khi khống chế được Biển Đông, địa vị siêu cường của Mỹ trên thế giới và nhất là tại Đông Bắc Á, Đông Nam Á không còn; trong khi đó Nga và Ấn Độ- hai nước lớn khác cũng không còn vai trò đáng kể.

 

Việt Nam được nhiều nước trên thế giới ủng hộ

 

Trung Quốc hiện nay là nước có GDP đứng thứ 2 thế giới, hải quân mạnh, đóng tầu lớn thì họ rất mạnh. Nhưng sự thật thì rất nhiều người kể cả người Trung Quốc cũng phải thừa nhận rằng trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam chúng ta có những ưu thế nhất định khiến họ phải dè chừng. Ngoài tinh thần dân tộc, sức mạnh nội tại, sự ủng hộ của thế giới, Việt Nam chúng ta còn có một vị trí địa lý chiến lược trên Biển Đông. Trong xử lý các vấn đề ở Biển Đông thật ra là chúng ta nhẫn nhịn để giữ hòa khí mà thôi. Tóm lại, Trung Quốc mạnh nhưng không đáng sợ. Nếu chiến tranh xảy ra, chính Trung Quốc cũng thừa nhận rằng họ không có bạn, họ sẽ bị cô lập trong khi Việt Nam đang nhận được sự ủng hộ của nhiều nước trên khắp thế giới.

 

Biển Đông vừa là vấn đề đối ngoại, vừa là vấn đề đối nội

 

Việt Nam không bao giờ chấp nhận đường biên giới “lưỡi bò” trên biển mà Trung Quốc vẽ ra. Muốn chặn đứng ý đồ của Trung Quốc, chúng ta cần làm cho khối ASEAN nhất là các nước có liên quan trực tiếp thấy rõ Việt Nam không có tham vọng tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải với bất kỳ ai. Phải làm sao cùng nhau tránh được âm mưu của Trung Quốc “chia để trị”, “bẻ gẫy từng chiếc đũa” tiến tới thôn tính toàn bộ Biển Đông. Chúng ta phải chủ động có những cố gắng bước đầu để phối hợp hành động nếu không muốn nói là cùng ra sức xây dựng lòng tin và sự đoàn kết trong nội khối. Nếu ASEAN làm được điều này, Trung Quốc sẽ không thể tự do hành động ngang ngược.

 

Lịch trình của Trung Quốc chiếm đóng phi pháp Hoàng Sa, Trường Sa

Năm1951, Ngoại trưởng Trung Quốc khi ấy là Chu Ân Lai  đã tuyên bố đòi chủ quyền với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 6-1956, quân đội Trung Quốc đã chiếm đóng “một nửa quần đảo Hoàng Sa” nhân lúc quân đội viễn chinh Pháp chưa kịp bàn giao cho chính quyền Sài Gòn. Tháng 1-1974 hải quân Trung Quốc dùng vũ lực lấy nốt nửa còn lại của quần đảo Hoàng Sa từ chính quyền Sài Gòn. Tháng 3-1988, quân đội Trung Quốc lấn chiếm 7 đảo, bãi đá ngầm của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa. Sau gần 40 năm, Trung Quốc đã chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và 7 đảo (bãi đá ngầm) trên quần đảo Trường Sa. Tháng 2-1992, Luật Lãnh hải nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa một lần nữa cho thấy rõ ràng Trung Quốc đã tự coi quần đảo Hoàng Sa đã thuộc họ, không có tranh chấp với ai.

Muốn làm được điều này, cần công khai, quốc tế hóa vấn đề này để công luận thế giới hiểu rõ. Chẳng hạn, nếu Việt Nam công khai việc các hạm tàu Trung Quốc đe dọa các thuyền, tàu cá của ngư dân ta đang đánh bắt cá tại vùng đặc quyền kinh tế của ta thì thế giới sẽ nghĩ sao về Trung Quốc?

 

Chúng ta phải làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và người Việt ở nước ngoài thấy rõ Trung Quốc đang vi phạm trực tiếp chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông. Hơn bao giờ hết, chúng ta phải thấy Biển Đông vừa là vấn đề đối ngoại lớn, đồng thời cũng là vấn đề đối nội lớn. Nếu đối ngoại là phải kiên quyết giương cao ngọn cờ chính nghĩa, học tập cha ông trong hành xử, ứng xử với Trung Quốc (thông minh, khôn khéo, nhưng luôn giữ vững lập trường trước những vấn đề nguyên tắc, không quá cứng rắn cũng không yếu đuối trước mọi áp lực của họ)… Còn đối nội, đó là, nâng cao lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc của mỗi người dân nhất là đối với thế hệ thanh niên.

 

Bên cạnh đó, chúng ta phải nhanh chóng tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước, tăng cường sự đoàn kết toàn dân tộc. Chỉ khi nào nền kinh tế đất nước phát triển lớn mạnh, đời sống nhân dân được cải thiện, uy tín của Việt Nam tại khu vực và trên trường quốc tế ngày một tăng cường và dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam muôn người như một thì chúng tôi cho rằng Trung Quốc buộc phải có cách ứng xử khác ở Biển Đông.

 

Dương Danh Dy